Email: PhamTranAnh2015@gmail.com


Tác Giả

Tác Phẩm

Lịch Sử Việt

Văn Minh Việt

Quốc Tổ Hùng Vương

Huyền Tích Việt

Lược Sử Việt Nam

Việt Nam Nước Tôi

Khơi Ḍng Lịch Sử

Đoạn Trường Bất Khuất

Chan Chứa Bao T́nh

Đế Quốc Mới Trung Cộng

Kẻ Thù Truyền Kiếp của Dân Tộc

History of Vietnam

Vietnam My Country


 

TỰ HÀO VIỆT NAM

 

    Mỗi dân tộc đều có những truyền kỳ lịch sử được thần thoại hoá thể hiện ḷng tự hào dân tộc mang tính sử thi của ḿnh. Thật vậy, huyền thoại Rồng Tiên về ngọn nguồn huyết thống Việt tuy đượm vẻ huyền hoặc nhưng lại tràn đầy tính hiện thực, thấm đậm nét nhân văn của truyền thống nhân đạo Việt Nam.

    Huyền sử con Rồng cháu Tiên là niềm tự hào của ṇi giống Việt. Đă là người Việt Nam th́ từ em bé thơ ngây đến cụ già trăm tuổi, từ bậc thức giả uyên bác đến bác nông dân suốt đời chân lấm tay bùn, không ai không một lần nghe truyện cổ tích Họ Hồng Bàng. Thật vậy, ai trong chúng ta mà không biết về nguồn cội Rồng Tiên với thiên t́nh sử của “Bố Lạc Mẹ Âu” mở đầu thời kỳ lập quốc của ḍng giống Việt.

    Truyền thuyết Việt Nam nói đúng hơn đó là truyền kỳ lịch sử Việt Nam được hư cấu dưới lớp vỏ huyền thoại nhưng thực chất lại đề cao con người với ư nghĩa nhân bản truyền thống. Truyền thuyết Việt Nam biểu trưng một triết lư văn hoá cao đẹp không những thấm đậm tính nhân đạo, chan chứa vẻ nhân văn, tràn đầy t́nh đồng bào, nghĩa ruột thịt qua h́nh tượng “Bọc điều trăm trứng nở trăm con”.

     Từ ư niệm đồng bào dẫn đến ḷng yêu nước, thương ṇi, yêu quê cha đất tổ, tất cả đă trở thành giá trị đạo lư truyền thống của nền văn minh đạo đức Việt Nam. Henri Bernard Maitre đă ca tụng nét đẹp văn hiến của Việt tộc qua đền thờ gọi là “Văn miếu”: “Văn Miếu không phải để cầu kinh hay làm bùa phép mà là nơi trang trọng ghi ơn các anh hùng dân tộc, các danh nhân văn hoá, các vị Tiến sĩ với những chuẩn mực đạo đức để con cháu đời sau ghi sâu vào tâm khảm bài học về đạo làm người Việt Nam, xứng đáng với hoài băo của Tiền Nhân”.

    Đối với người Việt, việc thờ cúng Ông bà Tiên tổ là đạo lư làm người trong đời sống tâm linh của người Việt. Từ xa xưa người Việt coi trọng đạo nghĩa nên thường nghĩ tới ngày giỗ của người thân hơn là chú trọng đến ngày sinh nhật của ḿnh. Ngày nay, dù giới trẻ quan tâm nhiều đến ngày sinh nhật nhưng cũng không quên những ngày kỵ giỗ người thân trong gia đ́nh. Đạo thờ cúng ông bà là một “Việt đạo” thể hiện đạo lư làm người của Việt tộc. Linh mục Cadière một thừa sai ngoại quốc đến Việt Nam truyền giáo phải thốt lên “Việt Nam là một dân tộc có tinh thần tôn giáo cao độ”.

    Học giả P. Mus nghiên cứu về Việt Nam cũng thừa nhận rằng “Dân tộc Việt có một đời sống tâm linh cao, người Việt không làm việc, họ tế tự”. Thật vậy, người ngoại quốc ngạc nhiên khi thấy “Mỗi gia đ́nh Việt Nam là một nhà thờ, nhà nào cũng có bàn thờ gia Tiên ở chính giữa nhà. Trong đời sống tâm linh Việt, Nhất cử nhất động, việc ǵ cũng tràn đầy tính chất thiêng liêng, thờ phượng, tế lễ, cúng giỗ với tất cả tấm ḷng chí thành”. Đây chính là điểm đặc thù độc đáo thấm đậm bản sắc dân tộc, tràn đầy vẻ nhân văn của triết lư văn hoá nhân chủ Việt Nam.

    Trong đời sống tâm linh Việt không chỉ hiển hiện ở bàn thờ Gia Tiên mà đền thờ ngự trong tâm thức mỗi người. “Người Việt không tham dự vào các buổi lễ để được ban phát ân sủng, mà họ hiệp thông cầu nguyện như một người “Tư Tế” với tất cả tính chất thiêng liêng của một tôn giáo”. Điều này thể hiện giá trị cao đẹp đặc trưng đời sống tâm linh của người Việt cổ.

    Thờ cúng tổ tiên chính là đạo lư làm người, là cái ǵ thiêng liêng cao cả truyền từ đời này sang đời khác. Chính ḍng sống tâm linh này đă góp phần bảo tồn ḍng giống Việt. Truyền thống thờ cúng ông bà không c̣n là một tập tục, một tín ngưỡng đơn thuần mà đă trở thành đạo lư của dân tộc. Thờ cúng ông bà được xem như Tổ Tiên chính giáo của đạo làm người Việt Nam mà Nguyễn Đ́nh Chiểu một sĩ phu yêu nước thế kỷ XIX đă ân cần nhắc nhở “Thà đui mà giữ đạo nhà, C̣n hơn sáng mắt ông cha không thờ”. Người Việt Nam ai cũng biết uống nước phải nhớ nguồn v́ “Công cha như núi Thái Sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra. Một ḷng thờ mẹ kính cha, cho tṛn đạo hiếu mới là đạo con … Ơn cha mẹ thề không lỗi đạo, Thờ sống sao thờ thác làm vầy. Công cha nghĩa mẹ xưa nay, Con nguyền ghi nhớ thảo ngay một ḷng”.

 

    Đây chính là điểm độc đáo của ḍng sống tâm linh Việt vẫn tiếp nối truyền lưu trong mỗi con người Việt Nam chúng ta hôm nay và măi măi về sau. Thật vậy bên cạnh đời sống thực tế khổ đau trước mắt, vẫn hiển hiện một đời sống tâm linh sâu thẳm, thấm đậm tính nhân bản hiện thực cao đẹp. Chính ḍng sống tâm linh đó đă tạo cho mỗi người Việt Nam một quan niệm sống lạc quan yêu đời, an nhiên tự tại nhưng vẫn sẵn sàng hy sinh mạng sống cho nền độc lập thực sự, quyền tự do thực sự và sự ấm no hạnh phúc thực sự cho toàn dân Việt Nam.

 

    Lịch sử Việt là lịch sử của sự thăng trầm từ khi lập quốc đến ngày nay trải qua gần một ngàn năm đô hộ của giặc Tàu, gần một trăm năm nô lệ giặc Tây và hơn nửa thế kỷ nô dịch văn hóa ngoại lai. Trong suốt trường kỳ lịch sử, Hán tộc bành trướng với ưu thế của một nước lớn đất rộng người đông cùng với những thủ đoạn thâm độc quỉ quyệt xóa đi mọi dấu vết cội nguồn, bóp méo sửa đổi lịch sử khiến thế hệ sau chỉ biết t́m về lịch sử trong cái gọi là “chính sử” hỗn độn mơ hồ. Mỗi một triều đại Hán tộc đều chủ tâm thay đổi địa danh, thủy danh xưa cũ của Việt tộc cùng với ảnh hưởng nặng nề của gần một ngàn năm nô dịch văn hóa khiến ta chấp nhận tất cả như một sự thật mà không một chút bận tâm. Thế nhưng, lịch sử vẫn là lịch sử của sự thật dù bị sửa đổi vùi lấp hàng ngh́n năm dưới ánh sáng của chân lư khách quan trước thềm thiên niên kỷ thứ ba của nhân loại.

    Bước sang thiên niên kỷ thứ ba, ánh sáng của sự thật soi rọi vào quá khứ bị che phủ hàng ngàn năm bởi kẻ thù Hán tộc bành trướng. Trong thiên niên kỷ thứ hai, nhân loại sửng sốt trước cái gọi là “Nghịch lư La Hy” khi trước đây nhân loại cứ tưởng tất cả nền văn minh Tây phương là của đế quốc Hy Lạp La Mă, để rồi phải xác nhận đó chính là nền văn minh của Trung Quốc. Cuối thiên niên kỷ thứ hai, nhân loại lại ngỡ ngàng khi thấy rằng cái gọi là nền văn minh Trung Quốc lại chính là nền văn minh của đại chủng Bách Việt.

    Vấn đề đặt ra cho chúng ta là phải nh́n lại toàn bộ lịch sử Việt để phục hồi sự thật của lịch sử để xóa tan đám mây mờ che lấp suốt mấy ngàn năm lịch sử bởi kẻ thù truyền kiếp của dân tộc. Trong lịch sử nhân loại, có lẽ không một dân tộc nào chịu nhiều mất mát trầm luân như dân tộc Việt với những thăng trầm lịch sử, những khốn khó thương đau. Ngay từ thời lập quốc, Việt tộc đă bị Hán tộc với sức mạnh của tộc người du mục đă đánh đuổi Việt tộc phải rời bỏ địa bàn Trung nguyên Trung quốc xuống phương Nam để rồi trụ lại phần đất Việt Nam bây giờ. Trải qua gần một ngàn năm đô hộ, với chiến thắng Bạch Đằng Giang năm 938 của Ngô Quyền mới chính thức mở ra thời kỳ độc lập của Việt tộc. Trong suốt trường kỳ lịch sử, tuy bị Hán tộc xâm lấn phải bỏ trung nguyên xuống phương Nam nhưng nền văn hóa của Việt tộc đă thẩm nhập vào đất nước và con người Hán tộc để h́nh thành “cái gọi là văn minh Trung Quốc”. Chính sử gia chính thống của Hán tộc là Tư Mă Thiên đă phải thừa nhận một sự thực là: “Việt tuy gọi là man di nhưng tiên khởi đă có đại công đức với muôn dân vậy …”.

    Vạn thế sư biểu của Hán tộc là Khổng Tử, Người Thầy muôn đời của Hán tộc đă ca tụng nền văn minh rực rỡ, xác nhận tính ưu việt của nền văn minh Bách Việt ở phương Nam. Trong sách Trung Dung Khổng Tử đă viết như sau: “Độ luợng bao dung, khoan ḥa giáo hóa, không báo thù kẻ vô đạo, đó là sức mạnh của phương Nam, người quân tử ứng xử như vậy…  Mặc giáp cưỡi ngựa, xông pha giáo mác, đến chết không chán, đó là sức mạnh của phương Bắc. Kẻ cường đạo hành động như thế ..”.

    Trong kinh “Xuân Thu”, Khổng Tử đă ghi lại bao nhiêu trường hợp cha giết con, con giết cha, cha cướp vợ của con, con cướp vợ của cha, anh chị em dâm loạn với nhau, bề tôi giết chúa … Điều này chứng tỏ Hán tộc du mục vẫn c̣n dă man mạnh được yếu thua, bất kể t́nh người, bất kể luân lư đạo đức. Thế mà chính sử Trung Quốc cứ vẫn miệt thị Việt tộc là man di, các Thứ sử Thái Thú Hán vẫn lên mặt giáo hóa dân Việt trong khi Bách Việt ở phương Nam đă đi vào nền nếp của văn minh nông nghiệp từ lâu. “Vạn thế Sư biểu” của Hán tộc là Khổng Tử cũng đă phải đem những nghiên cứu, sưu tập, học hỏi của nền văn minh Bách Việt phương Nam đặt để thành những tôn ti trật tự, những giá trị đạo lư cho xă hội Trung Quốc. Tất cả những “Tứ thư, ngũ kinh” được xem như tinh hoa của Hán tộc đă được chính Khổng Tử xác nhận là ông chỉ kể lại “Thuật nhi bất tác”, chép lại của tiền nhân chứ không phải do ông sáng tác.

    Ngày nay, sự thật lịch sử đă được phục hồi khi giới nghiên cứu đều xác nhận hầu hết các phát minh gọi là văn minh Trung Quốc từ nền văn minh nông nghiệp đến văn minh kim loại, kỹ thuật đúc đồng, cách làm giấy, cách nấu thủy tinh, cách làm thuốc súng, kiến trúc nóc oằn mái và đầu dao cong vút … tất cả đều là của nền văn minh Bách Việt. Chính Hán Hiến Đế, vị vua cuối cùng của triều Hán đă phải thừa nhận như sau: “Giao Chỉ là đất văn hiến, núi sông un đúc, trân bảo rất nhiều, văn vật khả quan, nhân tài kiệt xuất ..!”.

    Lịch sử nhân loại đă phải ghi lại “Kỳ Tích” có một không hai này của một dân tộc có gần năm ngàn năm văn hiến với nền văn minh đạo đức xa xưa. Chính truyền thống yêu nước thương ṇi của ḍng giống Rồng Tiên đă viết lên những trang sử đẹp nhất nhân loại. Nữ sĩ Blaga Dimitrova viết: “Việt Nam là xứ sở của địa linh nhân kiệt, một dân tộc với truyền thuyết đầy bí ẩn và một lịch sử quá oai hùng đến nỗi khó mà phân biệt đâu là huyền thoại, đâu là hiện thực nữa!”. L'aurroussau một học giả Pháp nghiên cứu lịch sử Việt Nam đă nhận định về sức sống huyền diệu của một dân tộc nông nghiệp bị Hán tộc du mục thống trị gần 1 ngàn năm mà vẫn kiên cường bất khuất, vùng lên chiến đấu để giành lại độc lập dân tộc: “Không có ǵ thắng được cái sức sống mạnh mẽ của người Việt Nam”.

    Nhà Việt Nam học Paul Mus cũng phải thừa nhận một sự thật mà không một dân tộc nào có được: “Ngay từ ngày lập quốc, tất cả then chốt của lịch sử Việt Nam đều ở cái tinh thần đối kháng đă biết kết hợp một cách kỳ lạ, một bên là năng lực đồng hoá lạ lùng, bên kia là ư chí quật khởi quốc gia không chịu khuất phục mặc dầu bị thua trận, bị phân tán, bị chinh phục. Hơn một ngàn năm bị sát nhập hoàn toàn vào Trung Quốc, từ thế kỷ thứ hai trước kỷ nguyên đến thế kỷ thứ mười sau kỷ nguyên, thay v́ làm cho dân tộc Việt Nam kiệt quệ th́ ngược lại đă làm cho dân tộc Việt trở nên hùng cường”. 

   Đặc biệt, trong bộ Bách khoa từ điển “Encyclopaedia Universalis” xuất bản ở Paris năm 1990 do nhà sử học Phillipe Devilière chủ biên với sự tham khảo hơn 60 học giả Âu Mỹ đă viết: “Lịch sử Việt Nam là ǵ? Đó là cuộc đấu tranh không ngừng cho sự tồn vong của cả một dân tộc. Trải qua hơn 4000 năm lịch sử, dân tộc Việt Nam đă chứng tỏ có một sức sống phi thường. Suốt 10 thế kỷ bị Trung Quốc thôn tính, người Việt Nam vẫn giữ nguyên bản sắc dân tộc và liên tiếp nổi dậy đánh đuổi kẻ xâm lược ỷ vào sức mạnh tưởng có thể khuất phục được họ.

    Lịch sử đă đặt ḷng tin vào dân tộc ấy và đă chứng minh khả năng đề kháng, óc sáng tạo, tính kiên tŕ và sự thích ứng với mọi cuộc chiến gian khổ nhất, khó khăn nhất và kể cả không cân sức nhất. Người Việt Nam tự hào với quá khứ của ḿnh, tôn vinh những bậc vĩ nhân đă tô điểm rạng rỡ quá khứ đó và quá khứ dù xa xăm hay gần đây luôn luôn có mặt khắp nơi trên đất Việt Nam, tác động mạnh mẽ vào hiện tại và tương lai. Việt Nam giữ một vị trí chiến lược rất quan trọng ở khu vực Đông Nam Á và Việt Nam có bề dày lịch sử hơn hẳn nhiều vương quốc châu Âu như Pháp, Anh, Tây Ban Nha dù rằng đối với phương Tây, hai tiếng Việt Nam vẫn c̣n mới mẻ”. ?

    Là người Việt Nam yêu nước, chúng ta phải tri ân những anh hùng liệt nữ đă đời đời hy sinh để tổ quốc trường tồn. Nhớ ơn tiền nhân chưa đủ mà chúng ta phải học tập, noi gương các danh nhân anh hùng khai sáng văn hoá, các anh hùng dân tộc của thời xa xưa thấm đậm trong tâm thức Việt để rồi dân tộc sẽ sản sinh ra những anh hùng của một ngày mai. Chính v́ vậy, có thể nói lịch sử là ngọn nguồn của ḷng yêu nước, chính lịch sử quá khứ hào hùng của một dân tộc sẽ là tương lai xán lạn huy hoàng của dân tộc đó.

    Nói theo sử gia thời danh Arnol Toynbee th́ “Nếu thiếu những sự thách thức tức là thiếu yêu cầu bức bách đ̣i hỏi phải biết vận dụng được một cách vượt bậc khả năng xoay chuyển t́nh thế th́ không có điều kiện để một cộng đồng người thể hiện được sức mạnh và sự sáng tạo của ḿnh. Chính sự đáp ứng thích hợp trước những thách thức, sự vận dụng một cách vượt bậc khả năng xoay chuyển t́nh thế, đă đưa tới những thành tựu văn hoá lớn tạo nên bản lĩnh của các dân tộc và có thể nói lịch sử h́nh thành một nền văn minh lớn, không bao giờ diễn ra trên một con đường bằng phẳng với những bước đi b́nh thản”. Trên thế giới có lẽ không một dân tộc nào mà chịu đựng thử thách gian nan khốn khó hơn dân tộc Việt. Lịch sử cũng đă chứng minh dân tộc ta đáp ứng được những yêu cầu bức bách, sự thách thức của từng thời đại để Việt Nam là một trong những nền văn minh cổ của nhân loại c̣n tồn tại măi đến ngày nay.

    Bước sang thế kỷ XX, dân tộc Việt chưa tháo gỡ được cái ách thống trị của thực dân Pháp th́ chủ nghĩa cộng sản đă tràn vào Việt Nam đưa dân tộc Việt vào thế khốn cùng. Cộng sản Việt Nam đă núp dưới chiêu bài giải phóng dân tộc để bành trướng chủ nghĩa cộng sản, tạo cơ hội cho tư bản nhân danh thế giới tự do nhảy vào can thiệp, ngăn chặn làn sóng đỏ xuống Đông Nam Á. Hậu qủa là hàng triệu người đă phải hi sinh oan uổng để rồi gần chín mươi triệu đồng bào đang phải sống dở chết dở dưới chế độ cộng sản bạo tàn phi nhân.

    Với chủ trương nô dịch của cộng sản, biết bao thế hệ Việt Nam bị nhồi nhét nền văn hóa Mác-Lê phi nhân tàn bạo mà hậu qủa là tạo ra những cỗ máy vô hồn, những con người vô cảm lạnh lùng, mất gốc. Trong khi đó, gần 4 triệu đồng bào Việt Nam tỵ nạn Cộng sản trên khắp thế giới nên thế hệ con em chúng ta ở hải ngoại phần nào bị ảnh hưởng của văn hóa ngoại lai mang tinh thực dụng, quên đi bản sắc văn hóa truyền thống Việt chan chứa t́nh người. Chính v́ vậy, vấn đề hết sức khẩn thiết là làm sao phải phục hoạt văn hóa Việt, phục hưng minh triết Việt để tẩy rửa mọi ư hệ ngoại lai, mọi ư đồ truyền bá văn hóa “Trung Quốc” đang được “những tên Thái thú mới”, “xác Việt hồn Tàu” đang thi hành mệnh lệnh của quan thầy Trung Cộng ra sức nhồi sọ dân tộc Việt.

    Hơn lúc nào hết, t́m hiểu về huyền thoại Rồng Tiên, khởi nguyên dân tộc Việt Nam kiểm chứng với những kết quả khoa học thuyết phục nhất sẽ giúp chúng ta hiểu rơ hơn về nguồn gốc dân tộc và cội nguồn văn hóa Việt Nam. Trong ư hướng đó, Lược Sử Việt Nam tóm lược lịch sử Việt Nam từ thời lập quốc cho đến ngày nay để thế hệ trẻ Việt Nam hiểu rơ tường tận lịch sử Việt Nam. Khi thế hệ con em chúng ta hiểu rơ về bản sắc văn hoá truyền thống của dân tộc Việt, về đời sống văn hoá tâm linh Việt, về những lễ tết, hội hè đ́nh đám của dân tộc Việt th́ thế hệ con em chúng ta sẽ thấy rơ hơn gía trị cao đẹp của bản sắc văn hóa truyền thống nhân bản Việt.  Con em chúng ta có quyền tự hào là “con Rồng cháu Tiên” của một dân tộc có lịch sử lâu đời như danh nhân văn hóa Nguyễn Trăi đă  tuyên xưng: “Chỉ  nước Đại Việt ta từ  trước, mới có  nền văn hiến ngàn năm”.

    Chúng ta phải làm sao xứng đáng với tiền nhân, chúng ta phải làm ǵ để không hổ thẹn với hồn thiêng sông núi, với anh linh của những anh hùng liệt nữ Việt Nam. Chúng ta hănh diện được làm người Việt Nam thuộc một đại chủng lớn của nhân loại để ngẩng cao đầu sánh vai cùng các cường quốc trong thiên niên kỷ thứ ba của nhân loại. Chính niềm tự hào dân tộc sẽ thôi thúc ḷng yêu nước của toàn thể đồng bào Việt Nam chúng ta, nhất là thế hệ trẻ trong nước và Hải ngoại để vươn lên làm một cuộc cách mạng Dân tộc Dân chủ xă hội.

    Điều kiện khách quan của lịch sử đă tạo cho dân tộc chúng ta một thế hệ trẻ có đầy đủ tri thức thời đại để hoàn thành một cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật siêu vượt, đưa đất nước chúng ta bước lên sánh vai cùng các cường quốc trong thiên niên kỷ thứ ba của nhân loại. Toàn thể đồng bào trong nước và Hải ngoại cùng nắm chặt tay nhau, muôn người như một cùng đứng lên đáp lời sông núi để cứu quốc và hưng quốc, tô điểm giang sơn gấm vóc, xứng danh ngàn năm ḍng giống Lạc Hồng.

MỘT ĐẠI VIỆT NAM, SIÊU BIÊN CƯƠNG

Việt Nam Minh Châu trời Đông,

Việt Nam giống thiêng Tiên Rồng…

Việt Nam trên đường tương lai

   Lửa thiêng soi toàn thế giới,  

  Việt Nam ta nguyền tranh đấu cho đời…

T́nh yêu đây là khí giới

T́nh thương đem về muôn nơi,

 Việt Nam đây tiếng nói đi xây t́nh người…

Việt Nam Muôn năm Muôn Năm

Việt Nam Muôn Năm Muôn Năm…

Việt Nam Muôn Đời…

    Đất nước Việt Nam của chúng ta sau ngày 30-4-1975 với sự thống trị của tập đoàn Việt gian Cộng Sản là một chuỗi những tang thương mất mát, ḷng người ly tán, nghèo nàn lạc hậu, đất nước mất dần vào tay Tầu Cộng. Bên cạnh những mất mát đó, điều kiện khách quan của lịch sử khiến hàng triệu đồng bào phải rời bỏ quê hương ra đi tỵ nạn trên khắp thế giới.  Sau hơn 43 năm đồng bào Việt Nam cư trú tại Hải ngoại đă lên tới hơn 4 triệu người Việt Nam với số lượng trí thức chuyên viên giỏi nhất và nhiều nhất thế giới mà không một dân tộc nào có được. Tinh thần hiếu học cùng với ư chí tiến thủ, con em của chúng ta đă thành đạt và đă đóng góp rất nhiều với những quốc gia sở tại như những công dân danh dự của nước này.

    Điều kiện khách quan của lịch sử cũng đă tạo cho Việt Nam chúng ta có những người Mỹ gốc Việt, người Nga gốc Việt, người Nhật gốc Việt, người Đức gốc Việt, người Anh gốc Việt, người Pháp gốc Việt… người Việt chúng ta, ngôn ngữ của chúng ta trải ra khắp thế giới. Với truyền thống yêu nước thương ṇi của người Việt khắp nơi trên thế giới mặc dù sinh sống ở đâu ḷng vẫn hướng về tổ quốc, về quê hương đất nước Việt Nam vẫn quây quần tụ hội trong t́nh ruột thịt, nghĩa đồng bào dưới “Mái Nhà Việt Nam” tại mỗi quốc gia, mỗi tiểu bang, mỗi quận hạt thành phố.

     Sau khi chế độ Cộng sản xụp đổ, những người Việt Nam yêu nước sẽ trở về mang theo tài sản, vốn tri thức để đóng góp tài năng trong công cuộc kiến quốc và hưng quốc Việt Nam. Thế hệ trẻ sẽ ở lại hội nhập vào ḍng chính của đất nước, quê hương thứ hai sau Việt Nam. Tất cả sẽ tạo nên một sức mạnh Việt Nam tiềm tàng, một Việt Nam siêu biên cương chắc chắn sẽ đóng góp hết sức to lớn trong công cuộc kiến thiết quốc gia và phục hưng quốc gia Đại Việt Nam trong tương lai.

    Với sức sống vô biên của người Việt Nam chúng ta, với “Đại Nghĩa Cao cả” của  Hào khí Diên Hồng-Tây Sơn Thời Đại, chúng ta nguyện làn hết sức ḿnh, quyết tâm tranh đấu cho:

 

                       Tổ Quốc Việt Nam Trường Tồn

                       Dân Tộc Việt Nam bất diệt

                       Đất nước Việt Nam Phú Cường

                       Nhân dân Việt Nam sung túc an lạc.

 

 

 

 

 

PHỤC HỒI SỰ THẬT LỊCH SỬ

 

 

“ TRẢ LẠI NHỮNG G̀ …

 CỦA LỊCH SỬ CHO LỊCH SỬ”

 

 

    PHẠM TRẦN ANH

 

Lịch sử Việt là lịch sử của sự thăng trầm từ khi lập quốc đến ngày nay trải qua hàng ngàn năm đô hộ của giặc Tàu, gần một trăm năm nô lệ giặc Tây và hơn nửa thế kỷ nô dịch văn hóa ngoại lai. Trong suốt trường kỳ lịch sử, Hán tộc bành trướng với ưu thế của kẻ thắng trận và thủ đoạn thâm độc quỷ quyệt đă không những dùng mọi phương cách để đồng hóa Việt tộc bằng cách xóa đi mọi dấu vết cội nguồn, bóp méo sửa đổi lịch sử khiến thế hệ sau chỉ biết t́m về lịch sử trong một mớ “chính sử” hỗn độn mơ hồ.

 

Mỗi một triều đại Hán tộc đều chủ tâm thay đổi địa danh, thủy danh xưa cũ của Việt tộc cùng với ảnh hưởng nặng nề của một ngàn năm đô hộ của sự nô dịch văn hóa khiến ta chấp nhận tất cả như một sự thật mà không một chút bận tâm. Thế nhưng… Lịch sử vẫn là lịch sử của sự thật dù bị sửa đổi vùi lấp hàng ngh́n năm dưới ánh sáng của chân lư khách quan trước thềm thiên niên kỷ thứ ba của nhân loại.

 

Vấn đề đặt ra cho chúng ta là phải nh́n lại toàn bộ lịch sử Việt để phục hồi sự thật của lịch sử để xóa tan đám mây mờ che lấp suốt mấy ngàn năm lịch sử bởi kẻ thù truyền kiếp của dân tộc.. Trong lịch sử nhân loại, có lẽ không một dân tộc nào chịu nhiều mất mát trầm luân như dân tộc Việt với những thăng trầm lịch sử, những khốn khó thương đau. Ngay từ thời lập quốc, Việt tộc đă bị Hán tộc với sức mạnh của tộc người du mục đă đánh đuổi Việt tộc phải rời bỏ địa bàn Trung nguyên Trung quốc xuống phương Nam để rồi trụ lại địa bàn Việt Nam bây giờ. Trải qua gần một ngàn năm đô hộ, với chiến thắng Bạch Đằng Giang năm 938 của Ngô Quyền mới chính thức mở ra thời kỳ độc lập của Việt tộc. Tuy thất bại về quân sự nhưng nền văn hóa của Việt tộc đă thẩm nhập vào đất nước và con người Hán tộc để h́nh thành cái gọi là văn minh Trung Quốc.

 

Chính sử gia chính thống của Hán tộc là Tư Mă Thiên đă phải thừa nhận một sự thực là “ Việt tuy gọi là man di nhưng tiên khởi đă có đại công đức với muôn dân vậy ..!”. Vạn thế sư biểu của Hán tộc là Khổng Tử đă ca tụng nền văn minh rực rỡ, xác nhận tính ưu việt của nền văn minh Bách Việt ở phương Nam. Trong sách Trung Dung Khổng Tử đă viết như sau:“Độ luợng bao dung, khoan ḥa giáo hóa, không báo thù kẻ vô đạo, đó là sức mạnh của phương Nam, người quân tử ở đấy ..!  Mặc giáp cưỡi ngựa, xông pha giáo mác, đến chết không chán, đó là sức mạnh của phương Bắc. Kẻ cường đạo ở đó ..”.

 

Trong kinh “Xuân Thu”, Khổng Tử đă ghi lại bao nhiêu trường hợp cha giết con, con giết cha, cha cướp vợ của con, con cướp vợ của cha, anh chị em dâm loạn với nhau, bề tôi giết chúa … Điều này chứng tỏ Hán tộc du mục vẫn c̣n dă man với lối sống du mục.ngay trong giới quí tộc chứ đừng nói đến b́nh dân. Thế mà chính sử Trung Quốc cứ vẫn sao chép Việt tộc là man di, các Thứ sử Thái Thú Hán vẫn lên mặt giáo hóa dân Việt trong khi Bách Việt ở phương Nam đă đi vào nền nếp của văn minh nông nghiệp từ lâu.

 

Chính“Vạn thế Sư biểu” của Hán tộc là Khổng Tử cũng đă phải đem những nghiên cứu, sưu tập, học hỏi của nền vă minh Bách Việt phương Nam đặt để thành những quy luật, trật tự cho xă hội phương Bắc. Tất cả những “Tứ thư, ngũ kinh” được xem như tinh hoa của Hán tộc đă được chính Khổng Tử xác nhận là ông chỉ kể lại “Thuật nhi bất tác”, sao chép lại của tiền nhân chứ không phải do ông sáng tác ra.

 

Ngày nay, sự thật lịch sử đă được phục hồi khi giới nghiên cứu đều xác nhận hầu hết các phát minh gọi là văn minh Trung Quốc từ nền văn minh nông nghiệp đến văn minh kim loại, kỹ thuật đúc đồng, cách làm giấy, cách nấu thủy tinh, cách làm thuốc súng, kiến trúc nóc oằn mái và đầu dao cong vút … tất cả đều là của nền văn minh Bách Việt. Chính một vị vua của Hán tộc, Hán Hiến Đế đă phải thừa nhận:“Giao Chỉ là đất văn hiến, núi sông un đúc, trân bảo rất nhiều, văn vật khả quan, nhân tài kiệt xuất ..!”.

 

 Ngày nay, hầu hết các học giả, các nhà Trung Hoa học đều cho rằng văn hoá Trung Quốc phát nguyên từ văn hóa Việt ở miền Nam Trung Quốc. Các sử gia Trung Quốc thời trước cố t́nh không thừa nhận một sự thực, đó là sự đóng góp to lớn của cư dân Hoa Nam tức người Việt cổ trong việc h́nh thành tạo dựng nền văn minh Trung Hoa. Học giả Eicks Kedt nhận định rằng Tư Mă Thiên, sử gia chính thống của “Đại Hán” sinh ở Long Môn thuộc Sơn Tây nên nhất quyết từ chối không để lại bất kỳ một tài liệu ǵ về dân Mạn Nam. Hầu như tất cả người Tàu mạn Bắc đều như vậy.  Eicks Kedt tiếc rằng những học giả Âu Tây chỉ biết ngốn nghiến sử liệu của Tư Mă Thiên hay những sử gia khác mà không chú ư đến việc bẻ quặt do sự bỏ sót nhiều sự kiện, nhất là khi nói đến các dân Man Di ngoài Hán tộc. Lư do của sự bỏ sót đó là họ đă xem Nho giáo xuyên qua lăng kính nhuộm đẫm màu Hán tộc nên chỉ nh́n nhận để có những ǵ thuộc miền Bắc nước Tàu mà thôi.

 

 Một nhà nghiên cứu về Trung Quốc khác là Terrien de la Couperie trong tác phẩm “Những ngôn ngữ trước Hán” đă nhận định: “Người Hán ngại nh́n nhận sự có mặt của những cư dân không phải là Hán tộc sống độc lập ngay giữa miền họ cai trị. Tuy họ không thể giấu được sự kiện là họ đă xâm lăng, nhưng họ đă quen dùng những danh từ đao to búa lớn, những tên địa dư rộng để bịt mắt những độc giả không chú ư, hầu che đậy buổi sơ khai tương đối bé nhỏ của họ. Muốn t́m hiểu các cư dân đó th́ chỉ c̣n cach là đi ḍ t́m vết tích c̣n quá ít v́ cho tới nay, người ta ít chú ư tới sự quan trọng lịch sử của các chủng tộc tiền Hán trừ một hai chuyện gây sự ṭ ṃ mà thôi”. Terrien de la Couperie kết luận: “Niềm tin là Trung Quốc vốn lớn lao măi từ xưa và thường xuyên là như thế chỉ là một huyền thoại. Trái ngược lại, đó là việc mới xảy ra về sau này. Văn minh Trung quốc không phải tự nó sinh ra mà chính là kết quả của sự thâu hoá. Việc thâu hoá th́ ngày nay được nhiều người công nhận, c̣n thâu hoá từ đâu th́ trước đây cho là từ phía Tây nhưng về sau này, nhiều người cho là từ văn hoá Đông Nam …”

 

Theo học giả J.Needham th́ Protoviets đă mang theo 25 đặc trưng văn hoá lên địa bàn cư trú mới mà các nhà nghiên cứu nhân chủng, ngôn ngữ và văn hoá liệt kê như sau:

 

1. Cách làm quần áo bằng vỏ cây.

2. Tục xâm ḿnh.

3. Đốt rừng làm rẫy.

4. Kỹ thuật làm nương rẫy.

5. Kỹ thuật đào mương dẫn nước vào ruộng.

6. Kỹ thuật thuần hoá trâu để cày bừa.

7. Văn minh trồng lúa nước.

8. Đặc điểm ngôi nhà làng để dân làng tụ họp sinh hoạt.

9. Kỹ thuật trồng tre và sử dụng dụng cụ bằng tre trong sinh hoạt hàng ngày.

10. Đặc thù về giống chó đă được thuần hoá.

11. Kỹ thuật làm tranh sơn mài.

12. Văn hoá biển và sông nước.

13. Kỹ thuật đóng thuyền tàu dài.

14. Tục đua thuyền trong các lễ hội.

15. Huyền thoại về con Rồng.

16. Tôn thờ loài Rồng này.

17. Tục thờ cúng ông bà Tiên tổ.

18. Tục giết heo để cúng bái.

19. Tục cầu tự (cầu cúng để có con nối dơi tông đường)

20.  Hội mùa Xuân, mùa Thu để trai gái tự do vui chơi để tự do lựa vợ kén chồng.

21. Tục linh thiêng hoá ngọn núi.(35bis)

22.  Văn minh Trống đồng.

23.  Kỹ thuật đúc sắt.

24.  Kỹ thuật dùng nỏ bắn tên.

25.  Kỹ thuật làm khí giới có chất độc ( Mũi tên tẩm thuốc độc).

 

 Sau văn hoá Hoà B́nh là VĂN HOÁ BẮC SƠN cũng thuộc nền văn hoá thung lũng mà chủ nhân là cư dân ở trung châu Bắc Việt là chủ nhân của nền văn hoá Bắc Sơn. Thời kỳ này tổ tiên ta đă chuyển hẳn sang trồng trọt và chăn nuôi nhỏ nhưng vẫn c̣n hái lượm và săn bắt cá. Di tích hang Tham Fi c̣n gọi là hang ma (Spirit cave) tại Đông Bắc Thái Lan có niên đại C14 là 10-8 ngàn năm. Nhà khoa học Mỹ Chester Gorman cũng đă t́m thấy nhiều hoá thạch lớn của các loại cây trồng như trám, cau, bàng và một số loại rau như rau sắn chùa Hương nửa hoang dại nửa thuần dưỡng và những vỏ trấu ở di chỉ hang Xóm tại Hoà B́nh. Thời kỳ này nghề nông trồng lúa đă bắt đầu từ vùng thung lũng rồi phát triển dần lên vùng cao.

 

 Điểm quan trọng được nhấn mạnh ở đây là khác với Lommel, J. Needham khẳng định rằng: 3 nếp sống văn hoá này đem vào Trung Hoa thời Tiền sử mang yếu tố “Biển” rơ rệt và có thể mô tả bằng một chữ, đó là chữ “VIỆT” mà trước kia thường gọi sai lầm là Thái cổ  (ProtoThai). Học giả lừng danh này c̣n chú thích rơ chữ Việt nay là quốc hiệu của một nước vùng Đông Nam châu Á: Nước Việt Nam ngày nay. Chính v́ vậy, học giả Nga ông Ja.V.Chesnov đă nhận định rất sâu sắc về nền văn minh Trung Quốc như sau: Trước triều Thương, văn hoá Trung Hoa được h́nh thành với sự đóng góp của văn hoá phương Nam và sau triều Thương tiến bộ là do văn hoá phương Tây ...

 

Tóm lại, người Trung Quốc mà ta thường gọi là Tàu (Hán tộc) không phải là một chủng thuần tuư và cũng không có một văn hoá riêng biệt nào. Lịch sử Trung Quốc bắt đầu từ triều đại Thương là một tộc người du mục kết quả của sự phối hợp chủng giữa Nhục Chi và Huns (Mông cổ). Kế tiếp là triều Chu cũng là một tộc du mục có hai ḍng máu Mông Cổ và Hồi (Turc). Sau khi Mông Cổ chiếm được Trung Quốc đă thành lập triều Nguyên rồi khi Măn Châu diệt triều Minh lại thành lập triều Thanh trong lịch sử Trung Quốc.

 

Có thể nói lịch sử Trung Quốc là lịch sử của sự xâm lăng và bành trướng đồng thời cũng bị xâm lăng nhưng tất cả kẻ chiến thắng bị sức mạnh của văn hoá của dân bị trị khuất phục để rồi tự đồng hoá với cư dân bản địa cuối cùng trở thành Hán tộc mà ta thường gọi là người Tàu. Giáo sư Wolfram Eberhard trong tác phẩm “Lịch sử Trung Quốc” đă nhận định: “Ư kiến cho rằng chủng tộc Hán đă sản sinh ra nền văn minh cao đại hoàn tự lực do những tài năng đặc biệt của họ th́ nay đă không thể đứng vững, mà nó phải chịu cùng một số phận như những thuyết cho rằng họ đă thâu nhận của Âu Tây. Hiện nay, người ta biết rằng xưa kia không có một chủng tộc Tàu, cũng chẳng có đến cả người Tàu nữa, y như trước đây 2.000 năm không có người Pháp, người Suisse vậy. Người Tàu chỉ là sản phẩm của sự pha trộn dần theo một nền văn hoá cao hơn mà thôi”.

 

Chính sử gia Trung quốc, Chu Cốc Thành trong “Trung Quốc thông sử” viết: “Viêm tộc (Việt tộc) đă có mặt khắp nước Trung Hoa cổ đại trước khi các ḍng tộc khác tràn vào nên có thể xem là chủ nhân đầu tiên. Khi Viêm Việt đă định cư, Hán tộc c̣n sống du mục tại vùng Tân Cương, Thanh Hải. Về sau họ theo Hoàng Hà tràn vào Hoa Bắc, chiếm đất của Việt tộc”. Nhà nghiên cứu La Hướng Lâm người Trung Quốc trích dẫn “Việt tỉnh Dân tộc Khảo nguyên” của Chung Độc Phật viết: “Cả miền đất châu Kinh (đất nước Sở), châu Dương (đất nước Việt) và châu Lương (đất nước Quỳ Việt) nghĩa là tất cả lưu vực sông Dương Tử từ Vạn Huyện ở Tứ Xuyên trở xuống đều là giống người Việt ở cả. Sách Hoa Dương Quốc chí chép miền Nam Trung gồm Quư Châu, Vân Nam là đất Di Việt xưa. Vùng đất này gồm hơn 1 chục vương quốc như Điền Bộc, Cú Đinh, Dạ Lang, Diệp Du, Đồng Sư, Việt Tuỷ …”.

 

Sự thực lịch sử này đă được các sử gia Trung Quốc hiện đại công nhận là Việt tộc theo sông Dương Tử tiến về phía Đông thành lập 7 tỉnh lưu vực sông Dương Tử gồm Tứ Xuyên, Hồ Bắc, Hồ Nam, Giang Tây, Giang Tô, An Huy và Triết Giang. Dần dần Việt tộc tiến lên Hoa Bắc thành lập 6 tỉnh lưu vực Hoàng Hà là Hà Nam, Hà Bắc, Sơn Tây, Sơn Đông, Thiểm Tây, Cam Túc và phía Nam thành lập các tỉnh lưu vực Việt Giang gồm Vân Nam, Quư Châu, Quảng Tây, Quảng Đông và Phúc Kiến.

 

Ngày nay, các nhà nghiên cứu như VK Tinh, Wang Kwo Wu và cả nhà văn nổi tiếng Quách Mạt Nhược đều xác định là hầu hết các huyền thoại về các vị Vua cổ xưa nhất không thấy ghi trên giáp cốt đời Thương, mà chỉ ghi vào sách vở về sau này, khoảng từ thế kỷ thứ IV TDL, tức là thời kỳ xuất hiện các quốc gia Bách Việt thời Xuân thu Chiến quốc. Thực tế lịch sử này cho thấy những huyền thoại cổ xưa là của Việt tộc v́ nếu là tổ tiên Hán tộc th́ đă phải ghi trên giáp cốt đời Thương cũng như trong các sử sách, cốt tự văn hoặc chữ tạc trên đồ dùng. Chính v́ vậy mà nhóm Tân học gọi là Nghi cổ phái thành lập năm 1920 do Quách Mạt Nhược chủ xướng đă bác bỏ thời Tam Hoàng, Ngũ Đế là của Trung Quốc.

 

Thật vậy, huyền thoại về thủy tổ Bàn Cổ mới được nói đến trong quyển “Tam Hoàng”, kể cả Phục Hi, Nữ Oa cũng không hề được nhắc tới trong các sách cổ xưa như Kinh Thi, Trúc thư kỷ niên và cũng không hề thấy xuất hiện trong đồ đồng hoặc bốc từ. Viêm Đế Thần Nông mới được Mạnh Tử thời Xuân thu Chiến quốc nhắc tới c̣n Hoàng Đế chỉ biết tới vào thế kỷ thứ III TDL khi Tư Mă Thiên đưa vào bộ “Sử Kư” của Tư Mă Thiên.

 

Tháng 2-1971, các nhà khảo cổ t́m được ở Liu-ch'êng-ch'iao Trường Sa thuộc vùng Hồ Nam, địa điểm tên là một cái qua c̣n nguyên vẹn. Trong tác phẩm "Cultural Frontiers in Ancient East Asia" của William Watson viết về những đồ vật đào lên tại tỉnh Hồ Nam trong đó có một cái qua có khắc tên một vị vua tên là Nhược Ngao. Sử Kư Tư Mă Thiên và Xuân Thu Tả Truyện viết rơ là vị vua có hiệu là Nhược Ngao là vị vua Hùng thứ 14 tên thật là Hùng Nghi hiệu Nhược Ngao cai trị vào năm 789 trước Tây Lịch. Điều này chứng tỏ thời đại Hùng Vương là có thật trong lịch sử.

 

Trước những sự thật của lịch sử, Trung Quốc đă phải xác nhận là nền văn hoá của họ là do hàng trăm dân tộc góp phần tạo dựng nhưng văn hoá Hán ở vùng Tây Bắc là chủ thể. Thế nhưng chính học giả Trung Quốc Wang Kuo Wei lại cho rằng nơi phát nguyên văn hoá Tàu là ở miền Đông Bắc tức vùng Sơn Đông của Lạc bộ Trăi chứ không phải ở miền Tây Bắc (Thiểm tây) như quan niệm sai lầm từ trước đến nay. Sử Trung quốc vẫn cho rằng 3 triều đại Hạ, Thương, Chu là những triều đại đầu tiên của Trung Quốc theo thứ tự, nhưng Kwang Chih Chang khám phá ra th́ không phải là như vậy mà đó chỉ là 3 trong nhiều nhóm chính trị đại diện cho các chủng tộc đối nghịch tranh giành ảnh hưởng mà thôi, c̣n văn hoá th́ đều theo như Di Việt nghĩa là cũng thờ thổ thần và cây linh.

 

 Theo Công tŕnh mới nhất “Nguồn gốc nền văn minh Trung Hoa”, tổng kết trong Hội nghị Quốc tế các nhà Trung Hoa học trên toàn thế giới tổ chức tại Berkeley năm 1978, th́  không thể t́m ra đủ dấu vết chứng cớ để phân biệt giữa Hán tộc và các tộc người không phải là Tàu trên phương diện lịch sử. Giới nghiên cứu phải t́m về dấu tích văn hoá mà về văn hoá th́ Hán tộc chịu ảnh hưởng của Di Việt.

 

Tương truyền Thần Nông phát xuất ở miền Tây Tạng (Tibet) đi vào Trung Nguyên qua ngă Tứ Xuyên tới định cư ở Hồ Bắc bên bờ sông Dương Tử, c̣n theo dân gian th́ ông Bàn cổ chính là ông Bành tổ. Theo dân gian truyền tụng th́ mồ mả của ông c̣n ở đâu đó miền rừng núi Ngũ Lĩnh. Bàn cổ mới được đưa vào lịch sử Trung Quốc đời Tam Quốc trong quyển “Tam Ngũ lược Kỷ” của Từ Chỉnh và theo Kim Định th́ Phục Hi, Nữ Oa đều xuất thân từ Di Việt ở châu Từ miền Nam sông Hoài.

 

Việt tộc là cư dân nông nghiệp trồng lúa nước đă cư ngụ rải rác khắp Trung nguyên (lănh thổ Trung Cộng bây giờ) từ lâu trước khi Hán tộc du mục từ Tây Bắc tràn xuống đánh đuổi nhà Hạ của Việt tộc để thành lập triều Thương đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc. Tư Mă Thiên sử gia “Đại Hán” đă mạo nhận Hoàng Đế nguyên là vị thần được dân gian tôn kính là tổ tiên của Hán tộc (Tàu) nên xem nhà Hạ là của Tàu. Thế rồi họ thêm chữ Hoa là một h́nh dung từ chỉ sự cao sang vinh hiển để trước chữ Hạ để chỉ nền văn minh Hoa Hạ cao đẹp của Việt tộc là của họ.

 

Bản chất của đế quốc “Đại Hán” là xâm lược và bành trướng suốt ḍng lịch sử nên hết triều Thương rồi đến Chu, Tần, Hán … đă liên tiếp xâm lược đẩy lùi Việt tộc xuống phương Nam. Năm 939 chiến thắng Bạch Đằng Giang lịch sử mở đầu thời kỳ độc lập của dân tộc. Hán tộc đă bao lần xâm lược nước ta nhưng đều thất bại thảm hại cho đến ngày nay, Trung Cộng lại xâm lấn lănh thổ Việt Nam với sự tiếp tay của tập đoàn CS Việt gian bán nước.

 

ớc sang thiên niên kỷ thứ ba, ánh sáng của sự thật soi rọi vào quá khứ bị che phủ hàng ngàn năm bởi kẻ thù Hán tộc bành trướng. Trong thiên niên kỷ thứ hai, nhân loại sửng sốt trước cái gọi là “Nghịch lư La Hy” khi trước đây nhân loại cứ tưởng tất cả nền văn minh Tây phương là của đế quốc Hy Lạp La Mă để rồi sau đó thấy rằng hầu hết các phát minh đến từ Trung Quốc ở phương Đông. Cuối thiên niên kỷ thứ hai, nhân loại lại ngỡ ngàng khi thấy rằng cái gọi là nền văn minh Trung Quốc lại chính là nền văn minh của đại chủng Bách Việt.

 

Một sự thật không thể phủ nhận được là “Huyền tích về Thánh Gióng tức Phù Đổng Thiên Vương” đánh tan giặc Ân vào đời Hùng Vương thứ 8 đă được chính thư tịch cổ Trung Quốc xác nhận sự hiện hữu của quốc gia Văn Lang lúc đó c̣n ở Quư Châu TQ bây giờ. Ngày nay, với sự tiến bộ của các khoa Khảo cổ học, khoa Khảo Tiền Sử và Khoa Di Truyền học nên tất cả sự thật lịch sử đă được phục hồi một cách khách quan trung thực. Huyền tích đă trở thành một sự thật lịch sử nhưng chúng ta vẫn nh́n về lịch sử xa xưa với những truyền kỳ có thêm phần huyền ảo để sự thật lịch sử được điểm tô hư cấu như một “Sự Tích” có vẻ thi vị huyền hoặc đẹp như một “Áng Sử Thi” của dân tộc chúng ta.

 


 

 

 


 

KHƠI D̉NG SỬ VIT

 

Từ trước tới nay, các sử gia Việt Nam thường dựa trên cái gọi là chính sử của Trung Quốc để viết sử Việt Nam nên sự thật lịch sử bị bóp méo, bị xuyên tạc gây ra nhiều ngộ nhận tai hại. Tất cả đă tạo ra những “Sai lạc Lịch sử” về tiến tŕnh lập quốc của Việt Nam từ bao lâu nay bởi sức mạnh của kẻ chiến thắng qua hàng ngh́n năm lịch sử.

 

Chúng ta tự hào là con Rồng cháu Tiên của Bố Lạc Mẹ Âu với thiên t́nh sử đẹp như một áng sử thi mở đầu thời kỳ dựng nước của ḍng giống Việt. Truyện họ Hồng Bàng về khởi nguyên dân tộc, lần đầu tiên được Hồ Tông Thốc chép trong tác phẩm “Việt Nam Thế Chí” vào thế kỷ XIV đời Trần nhưng sách đă bị quân Minh tịch thu tiêu hủy nên không c̣n nữa. Đầu thế kỷ XIV, Trần Thế Pháp và Lư Tế Xuyên đời Trần đă chép lại những truyền thuyết dân gian vào bộ sách “Lĩnh Nam Trích Quái” và “Việt Điện U Linh” để truyền lưu nguồn gốc giống ḍ̣ng Việt cho đời sau.

 

Măi đến đời Lê, sử gia Ngô Sĩ Liên mới chính thức đưa thời đại Hùng Vương vào bộ Đại Việt Sử Kư Toàn Thư. Sử gia Ngô Sĩ Liên viết “Nước ĐẠI VIỆT ta ở về phía Nam Ngũ Lĩnh, thế là Trời đă chia bờ cơi Nam Bắc hẳn ḥi. Thủy tổ của ta là con cháu Thần Nông. Trời đă sinh ra vị chân chúa v́ thế mới cùng Bắc triều đều làm chúa Tể một phương…”. Học giả Lê Quư Đôn trong “Kiến Văn Tiểu Lục” viết năm 1777 đă nhận định: “Hồi đầu niên hiệu Khai Hựu (1329-1341) nhà Trần, Lư Tế Xuyên phụng mệnh chép Việt Điện U Linh tập, ghi đền miếu thờ các vị thần, có tŕnh bày hạo khí linh tích 8 vị Đế Vương Lịch Đại và 12 vị Nhân Thần. Sách này lời văn trang nghiêm, sự việc xác thực, cũng tỏ ra tài nhà sử học lành nghề. Trong sách có dẫn Giao Châu Kư của Tăng Cổn, Sử Kư của Đỗ Thiện và truyện Báo Cực. Những sách này đều không c̣n thấy lưu truyền!”.

    

Dư Địa Chí của Nguyễn Trăi, soạn vào khoảng năm 1428-1430, viết về quốc hiệu nước ta vào đời Hồng Bàng như sau: "Trong sách chương của Thiên Vương có gọi Việt Nam, Nam Việt, Giao Chỉ, An Nam, Nam B́nh, ngày nay cũng xưng là Việt Nam" và "Vua Đế Minh trao cho Kinh Dương Vương làm Việt Nam Vương". 

 

Sử triều Thương là triều đại lập quốc của Hán tộc đă chép lại việc giặc Ân xâm lược Văn Lang:“Đời Cao Tông triều Ân, vượt Hoàng Hà đánh nước Quỷ Phương đóng quân ở đất Kinh”. Kinh Thư, Sử Kư Tư Mă Thiên và bộ Trúc Thư Kỷ Niên chép Đời Vũ Định là vị vua thứ 22, lấy hiệu là Cao Tông năm thứ 32, đem quân đánh nước Quỷ Phương và đóng quân tại Kinh là đất Kinh Việt thuộc châu Kinh. Lănh thổ triều Thương lúc đó chỉ vỏn vẹn có hơn 2 tỉnh ở hạ lưu sông Hoàng Hà. Chung quanh là cộng đồng Bách Việt trải rộng khắp Trung nguyên tức lănh thổ Trung Quốc bây giờ.

 

Thực tế lịch sử này được Hội nghị Quốc tế các nhà Trung Hoa học trên khắp thế giới kể cả Trung Quốc và Đài Loan hội thảo tại đại học Berkerley Hoa Kỳ năm 1978 đă thừa nhận là Di Việt làm chủ Trung nguyên trước Hán tộc và các triều đại Thương, Chu tiếp thu văn hóa của Di Việt ở phương Nam. Sự thật lịch sử này được National Geographic Company ấn hành bản đồ năm 1991 ghi rơ từ hạ lưu sông Hoàng Hà trở xuống là Di Việt với nền văn minh lúa nước của tộc Việt.

 

Sách “Hậu Hán Thư” và sách “Địa Lư Chí” chép rơ ràng hơn về cộng đồng Bách Việt như sau: “Từ Giao Chỉ đến Cối Kê trên bảy tám ngh́n dặm, người Bách Việt ở xen nhau, đều có chủng tính”. Tên của các nhóm trong Bách Việt được sách “Lộ Sử” tức sử của người Lạc Việt của La Tất đời Tống liệt kê như sau: “Việt Thường, Lạc Việt, Âu Việt, Âu Khải, Âu Nhân, Thả Âu, Cung Nhân, Hải Dương, Mục Thâm, Phù Xác, Cầm Nhân, Thương Ngô, Man Dương, Dương Việt, Quế Quốc, Tây Âu, Quyên Tử, Sản Lư, Hải Quỳ, Tây Khuẩn, Kê Từ, Bộc Cầu, Bắc Đái, Khu Ngô… gọi là Bách Việt. Trong những nhóm Bách Việt ấy th́ Dương Việt ở miền hạ lưu sông Dương Tử, nhóm Thương Ngô ở miền Nam tỉnh Quảng Tây. Nhóm Sản Lư tức Xa Lư ở miền Tây Nam tỉnh Vân Nam. Như vậy, theo sử sách Trung Quốc xưa gọi là Bách Việt là những nhóm người Việt ở rải rác khắp miền Hoa Nam phía Tây gồm cả đất Vân Nam, phía Nam gồm cả miền Bắc và Bắc Trung Việt. Sử sách thường gọi chung là miền Giang Nam và miền Lĩnh Nam”.

 

Trong bộ Sử Kư, Tư Mă Thiên sử gia chính thống của Trung Quốc viết: “Đông Việt hay Đông Âu trong thời Tần Hán đóng đô ở Vĩnh Ninh tức Vĩnh Gia là miền Triết Giang, Mân Việt th́ ở đất Mân Trung tức miền Phúc Kiến, Nam Việt đô ở Quảng Châu miền Quảng Tây, Tây Âu ở phía Nam sông Ly miền Quảng Tây…”. Sách sử cổ Trung Quốc chép rằng năm 1766 TDL, vua Thương là Thành Thang đánh chiếm nhà Hạ. Sách Hoài Nam Tử, Thái Tộc Huấn chép về cương vực triều Thương như sau: “Tả Đông Hải, hữu Lưu Sa, tiền Giao Chỉ, hậu Hàm Đô” nghĩa là Giao Chỉ giáp phương Nam nước Thương. Như vậy, sau khi tộc Thương đánh chiếm nhà Hạ, người Việt cổ đă phải vượt sông Hoàng Hà xuống phương Nam chung sống với các chi tộc Việt khácnên sách Hoài Nam Tử của Lưu An mới viết Giao Chỉ giáp với phiá Nam của triều Thương. Sách “Dư Đia Chí” Trung Quốc của Cổ Dă Vương chép “Giao Chỉ đời Chu là Lạc Việt”.

    

Bách Việt Tiên Hiền Chí của Trinh Bá Âu Đại Nhậm viết: “Theo sách Thượng Thư, thiên Vũ Cống, ngoại cảnh châu Dương, từ Ngũ Lĩnh đến biển, đều là biên giới phương Nam nước Việt. Vua Vũ đi khắp thiên hạ, nhận định địa lư h́nh thể, địa lư nhân văn rồi trở về nước Việt, bàn định kế hoạch hưng quốc an dân. Thiếu Khang (vua thứ 6 đời nhà Hạ) phong cho con thứ là Vô Dư giữ đất Cối Kê, lo việc phụng thờ tế tự vua Vũ. Vô Dư ở Cối Kê, giữ tục truyền thống, xâm ḿnh cắt tóc ngắn, phát cỏ khẩn hoang, định cư lập ấp, sống theo phong hóa nông nghiệp…

 

Vốn xưa Cối Kê là đất của Việt, miêu duệ của vua Hạ Vũ cai trị đất này. Từ sau biến cố ĺa tan, đến định cư trên miền duyên hải Giang Nam, kẻ làm Vương người làm Quân Trưởng, ḍng dơi Bách Việt sinh sôi đông đảo, sống đời hạnh phúc, danh thơm vang lừng khắp nơi. Đất nước của các Quân Trưởng, xa đến tận Nam Hải, Quế Lâm”.   Học giả Lê Quư Đôn trong tác phẩm “Vân Đài Loại Ngữ” đă viết “Tên Giao Chỉ đă có từ lâu. Kinh Thư gọi là Minh Đô, thực đáng là cái vực sâu, cái chằm rậm chứa đựng văn minh của nhân loại”.

 

Thư tịch cổ Trung Quốc đă thừa nhận một thực tế lịch sử đó là sự thành lập của các quốc gia thời Chiến quốc mà họ gọi là Bách Việt ở vùng Giang Nam. Đông Việt tức U-Việt (c̣n gọi là Vu Việt) của Việt Vương Câu Tiễn không chỉ ở Triết Giang mà lên tới miền Giang Tô tức Châu Từ, quê hương của gốm sứ Việt cổ nổi tiếng của chi Dương Việt mà kinh đô là Cối Kê. Trong bộ sách Sử Kư Tư Mă Thiên đă viết rơ “Tổ Câu Tiễn là ḍng vua Vũ của nhà Hạ. Câu Tiễn Văn thân Đoạn phát (nghĩa là cắt tóc xâm ḿnh)...”. Lư Tế Xuyên đă viết “Việt Điện U Linh” về nước Việt cổ xưa.

 

Bách Việt bao gồm Mân Việt ở Phúc Kiến, Dương Việt ở Giang Tây, Điền Việt ở Vân Nam, Quỳ Việt ở Tứ Xuyên, Nam Việt ở Quảng Đông, Âu Việt c̣n gọi là Tây Âu ở Quảng Tây, Lạc Việt ở Hà Bắc, Hà Nam, Sơn Đông trải dài xuống tới Triết Giang, Hồ Nam, Quảng Tây và Bắc Việt Nam. Việt tộc không chỉ cư trú ở vùng lưu vực giữa Hoàng Hà Dương Tử mà Lạc bộ Chuy c̣n định cư ở ngă ba sông Vị, sông Lạc, sông Hoàng Hà và ở mạn Bắc hạ lưu sông Hoàng Hà mà cổ sử Trung Quốc gọi là Bách Bộc. Bách Bộc không phải tên chủng tộc mà chỉ là tên gọi những tộc người Việt cổ ở vùng sông Bộc. Sông Bộc bắt nguồn từ cao nguyên chảy qua Hà Bắc vùng giữa Hà Nam và Sơn Đông rồi chảy vào Hoàng Hà.

 

Theo “Lệ Sử Dân” th́ Bộc tức Bách Bộc chi tộc ở vùng sông Bộc. Mặt khác, sách “Nhĩ Nhă” của môn đệ Khổng Tử ghi: “Rợ Đông Di (Lạc bộ Trĩ) định cư từ lưu vực sông Bộc ra tới biển Đông và lên tới cực Bắc Trung Hoa cũng có tục nhuộm răng xâm ḿnh.”. Sách Nhĩ Nhă viết chữ Lạc của Lạc bộ Trĩ (Trăi) giống hệt chữ Lạc trong họ của Lạc Long Quân. Đặc biệt, Sử Kư Tư Mă Thiên và Xuân Thu Tả Truyện viết rơ là vị vua có hiệu là Nhược Ngao là vị vua Hùng thứ 14 tên thật là Hùng Nghi hiệu Nhược Ngao cai trị vào năm 789 trước Dương Lịch. Điều này chứng tỏ thời đại Hùng Vương là có thật trong lịch sử.

 

 Sử gia Trung Quốc Chu Cốc Thành trong tác phẩm “Trung Quốc Thông Sử” th́ Viêm tộc đă có mặt khắp nước Trung Hoa cổ đại trước khi Hán tộc tràn vào. Viêm tộc là tộc người do Viêm đế Thần Nông c̣n gọi là Đế Thần làm chủ toàn cơi Trung nguyên đầu tiên. Lúc đó, Hán tộc du mục c̣n săn bắt, chăn nuôi ở vùng Tân Cương, Thanh Hải. Sau này, họ tiến xuống dọc theo sông Hoàng Hà đánh chiếm đất đai của Viêm tộc.

 

Sử gia Trung Quốc Mộng văn Thông trong tác phẩm “Cổ Sử Nhân Vi” cho rằng “Viêm Tộc theo triền sông Dương Tử tràn xuống 7 tỉnh lưu vực Dương Tử Giang là Tứ Xuyên, Hồ Bắc, Hồ Nam, Giang Tây, Giang Tô, An Huy, Triết Giang. Sau đó, họ tiến lên b́nh nguyên Hoa Bắc, cư trú ở ở lưu vực sông Hoàng Hà gồm 6 tỉnh Hà Nam, Hà Bắc, Sơn Tây, Sơn Đông, Thiểm Tây, Cam Túc. Theo thời gian, họ vượt qua 5 dăy núi của rặng Ngũ Lĩnh tiến về 5 tỉnh vùng lưu vực sông Việt Giang là Vân Nam, Quư Châu, Quảng Tây, Quảng Đông và Phúc Kiến”. Sách “Hán Quan Nghi” của Ưng Thiệu đời Hán cũng phải thừa nhận một thực tế là: “Khi cổ nhân mới mở nước ở phương Bắc đă giao tiếp ngay với phương Nam để xây dựng nền tảng cho đời sau”.

 

Nhà Trung Hoa học Legge trong tác phẩm Xuân Thu “The Ch' un sew” có in tấm bản đồ “Việt Đông Tỉnh Thành” th́ hai chữ Việt Đông bao trùm các chi tộc Việt ở rải rác từ miền núi Thái Sơn ở Sơn Đông trở xuống xuyên qua các tỉnh miền Sông Hoài, Giang Tô, Giang Nam trong đó có quê hương của các nhân vật huyền sử như Phục Hi, Nữ Oa, Thần Nông mà J. Needham gọi là liên đoàn các dân tộc Việt hay cộng đồng huynh đệ Bách Việt. Thật vậy, Việt tộc không chỉ cư trú ở vùng lưu vực Hoàng Hà Dương Tử mà c̣n định cư ở mạn Bắc Hoàng Hà mà cổ sử Trung Hoa gọi là Bách Bộc. Đặc biệt, gần đây nhóm Tân học gọi là “Nghi Cổ Phái” do Quách Mạt Nhược thành lập năm 1920 chủ xướng đă bác bỏ thời Tam Hoàng, Ngũ Đế.

 

Sự thật lịch sử này đă được hội nghị Quốc Tế về nền văn minh Trung Hoa gồm các nhà Trung Hoa học tổ chức ở Đại học Berkerley Hoa Kỳ năm 1978 xác định rằng Di Việt làm chủ Trung Nguyên trước tiên, sau đó bị Thương Chu đánh đuổi chạy xuống phương Nam. Sử Kư của Tư Mă Thiên chép rằng Hoàng Đế là người khai mở lịch sử Trung Quốc nhưng sự thật đă xác nhận rằng Hoàng Đế là người Việt cổ và lịch sử Trung Quốc chỉ mới bắt đầu từ triều Thương (1766-1154 TDL) và các triều Thương, Chu của Hán tộc lại chịu ảnh hưởng sâu đậm của văn hoá Di Việt.

 

Sử gia hàng đầu của Trung Quốc hiện nay là Trương Quang Trực (Chang Kwang Chih), đă phải thừa nhận một sự thực lịch sử là tuy Trung Quốc là một quốc gia lớn với một nền văn hoá lớn nhưng nó đă phải thâu nhập tinh hoa của nhiều nền văn hoá hoá hợp lại: “Những nền văn hoá địa phương thời tiền sử, sau khi thống nhất đă trở thành một bộ phận của văn hoá Trung Quốc. Nguồn gốc thực sự của Hoa Hán chỉ là phần nhỏ nhưng sau khi triều Tần thống nhất th́ dân tộc cả nước thống nhất ấy là dân tộc Trung Hoa”.

 

Sử gia Trung Quốc Hoàng văn Nội đă thừa nhận là quá nửa dân số Trung Quốc ngày nay là người gốc Viêm tộc (Viêm Việt) bị Hán tộc thống trị đồng hoá thành người Hán. Sự thật lịch sử này được chính nhà khảo cổ Trung Quốc Yong Qang Yao và các đồng nghiệp tại Hàn Lâm Viện Trung Quốc Côn Minh ở Vân Nam thừa nhận qua các công tŕnh nghiên cứu khảo cổ như sau: “Sự thành lập dân Hán là một tiến tŕnh liên tục bành trướng bằng cách sát nhập nhiều bộ lạc và chủng tộc vào dân Hán”.  

 

Lịch sử Việt là lịch sử của sự thăng trầm từ khi lập quốc đến ngày nay. Dân tộc Việt đă phải chịu đựng gần một ngàn năm đô hộ của giặc Tàu, sau chiến thắng Bạch Đằng Giang lịch sử năm 938 của Ngô Quyền đă mở ra thời kỳ độc lập tự chủ của dân tộc. Trong suốt trường kỳ lịch sử, Hán tộc bành trướng với ưu thế của kẻ thắng trận và thủ đoạn thâm độc quỷ quyệt đă dùng mọi phương cách để đồng hóa Việt tộc bằng cách xóa đi mọi dấu vết cội nguồn, bóp méo sửa đổi lịch sử khiến thế hệ sau chỉ biết t́m về lịch sử trong một mớ “chính sử” hỗn độn mơ hồ. Mỗi một triều đại Hán tộc đều chủ tâm thay đổi địa danh, thủy danh xưa cũ của Việt tộc cùng với ảnh hưởng nặng nề của gần một ngàn năm đô hộ của sự nô dịch văn hóa khiến một số người chấp nhận tất cả như một sự thật mà không một chút bận tâm.

 

Đại Việt Sử Lược của một tác giả “Khuyết danh” được xem là bộ sử đầy đủ c̣n lại của nước ta nhưng đă bị quân Minh tiêu hủy cùng với các bộ sách sử cổ của Việt Nam. Bản duy nhất c̣n lưu giữ trong Tứ Khố Toàn Thư Trung Quốc sau khi sử quan triều Thanh là Tiền Hy Tộ đă sửa đổi bóp méo nhiều sự kiện lịch sử, thậm chí đổi cả tên sách là Việt Sử Lược. Việt Sử Lược chép:

 

“Xưa Hoàng đế dựng muôn nước thấy Giao chỉ ở xa ngoài cơi Bách việt, không thể thống thuộc được bèn chia giới hạn ở góc Tây Nam. Đời Thành vương nhà Chu (1024-1005 tr. C.N) Việt Thường Thị mới đem dâng bạch trĩ, sách Xuân Thu, gọi là khuyết địa. Đái Kư (Lễ Kư Đại Đái, Tiểu Đái Chú) gọi là Điêu Đề. Đến đời Trang vương nhà Chu (696-682 tr. CN.) ở bộ Gia Ninh có người lạ, dùng ảo thuật áp phục được các bộ lạc, tự xưng là Hùng Vương, đóng đô ở Văn Lang, hiệu là nước Văn Lang, phong tục thuần hậu, chất phác, chính sự dùng lối kết nút. Truyền được 18 đời đều gọi là Hùng Vương. Việt Câu Tiễn (505-465 tr. CN.) đă sai sứ tới dụ, Hùng vương chống cự lại… Cuối đời Chu, Hùng vương bị con vua Thục là Phán đánh đưổi mà lên thay. Phán đắp thànhở Việt Thường, xưng hiệu là An Dương Vương, không thông hiếu với nhà Chu. Cuối đời Tần, Triệu Đà chiếm cứ Uất lâm Nam hải, Tượng quận, xưng vương đóng đô ở Phiên ngung, quốc hiệu là Việt, tự xưng là Vũ Vương”.

 

Bộ Lịch Sử Việt Nam của Nhà nước Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam viết về sự thành lập nước Văn Lang như sau: “Sự ra đời của nhà nước Văn Lang đầu tiên của nước ta đời Hùng Vương và Âu Lạc đời An Dương Vương vào giai đoạn Đông Sơn trong thiên niên kỷ thứ I trước công nguyên… Căn cứ theo 15 bộ của nước Văn Lang và nhất là căn cứ vào quá tŕnh chuyển hoá lịch sử nước Văn Lang đời Hùng Vương đến nước Âu Lạc đời An Dương Vương, rồi đến 2 quận Giao Chỉ, Cửu Chân thời thuộc Triệu và thuộc Hán, có thể xác định địa bàn của nước Văn Lang tương ứng với vùng Bắc bộ, Bắc Trung bộ nước ta ngày nay và một phần phiá Nam tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây của Trung Quốc” 

 

Các nhà sử học Xă Hội Chủ Nghĩa viết sử theo nghị quyết của đảng Cộng sản sửa đổi lịch sử cho phù hợp với sử Trung Quốc đă chứng minh bản chất Việt gian bán nước khi phủ nhận cội nguồn, phản dân tộc của họ. Đây là tội ác lịch sử của một số người vong bản, nhân danh “Sử quan Duy vật, khoa học lịch sử Mác Xít” để phản bội dân tộc, phủ nhận cội nguồn gốc tích tổ tông không thể tha thứ được.

 

Họ đă phủ nhận nền văn hóa Ḥa B́nh, Phùng Nguyên, văn minh Đông Sơn mà các công tŕnh khảo cổ đă xác định rằng, sơ kỳ của thời đại đồ đồng ở Việt Nam mở đầu cách nay 4.000 năm với nền văn hoá Phùng Nguyên mà đỉnh cao là nền văn hoá Đông Sơn được giới nghiên cứu thừa nhận là nền văn minh trống đồng độc đáo của Việt tộc mở đầu cách nay 2.800 năm. Điều đó có nghĩa là ít nhất là cách đây ít nhất là 4.000 năm, xă hội Việt cổ đă tổ chức ổn định thứ tự lớp lang. Nói một cách khác, xă hội Văn Lang đă được định chế hoá thành nhà nước từ lâu. Giới nghiên cứu lịch sử cổ đại đă nhận định là khi con người cổ đại đă biết nung chảy kim khí th́ họ cũng nung chảy luôn cái khuôn mẫu xă hội nguyên thủy để tổ chức thành nhà nước với những định chế rơ ràng.

 

Mặt khác, họ quên một điều là bộ Đại Việt Sử Lược tuy là bộ sử xưa nhất c̣n sót lại nhưng đă bị Tiền Hy Tộ (người Hán) sửa chữa đổi tên là Việt Sử Lược rồi lưu trong Tứ Khố Toàn Thư của Thanh triều nên luận điệu sặc mùi Đại Hán bành trướng. Các sử gia Hán tộc với quan niệm "Đại nhất thống" tự cho là trung tâm thế giới, cái rốn của nhân loại, là tộc người ưu việt.

 

Các triều đại Hán tộc luôn luôn chủ trương “Huệ thử Trung Quốc, dĩ tuy tứ phương” nghĩa là: lấy ân huệ Trung Quốc để yên định bốn phương và "Dĩ Hạ biến Di", lấy cái cao thượng, tao nhă của Đại Hán để cải hoá man di mọi rợ. Chính v́ vậy trong mọi thời kỳ lịch sử, Hán tộc luôn luôn chủ trương tiêu diệt văn tự các dân tộc khác, âm mưu nô dịch văn hoá rồi đồng hoá các dân tộc. Lợi dụng Hán tự là văn tự duy nhất các sử gia Trung Quốc từ cổ đại đến nay đă xuyên tạc, bóp méo sự thật, sửa đổi cho phù hợp với sử quan Đại Hán, đánh đổ ḷng tự hào dân tộc của các tộc người khác để dễ bề thống trị và đồng hoá họ. Đó là chủ trương trước sau như một, bản chất bành trướng thâm độc của họ suốt từ xưa tới nay.

 

ớc sang thiên niên kỷ thứ ba, ánh sáng của sự thật soi rọi vào quá khứ bị che phủ hàng ngàn năm bởi kẻ thù Hán tộc bành trướng. Trong thiên niên kỷ thứ hai, trước đây nhân loại cứ tưởng tất cả nền văn minh Tây phương là của đế quốc Hy Lạp La Mă để rồi sau đó thấy rằng hầu hết các phát minh đến từ Trung Quốc ở phương Đông. Cuối thiên niên kỷ thứ hai, nhân loại lại ngỡ ngàng khi thấy rằng cái gọi là nền văn minh Trung Quốc lại chính là nền văn minh của đại chủng Bách Việt.

 

Vấn đề đặt ra cho chúng ta là phải nh́n lại toàn bộ lịch sử để phục hồi sự thật của lịch sử để xóa tan đám mây mờ che lấp suốt mấy ngàn năm lịch sử bởi kẻ thù truyền kiếp của dân tộc khiến chúng ta hoài nghi về nguồn gốc của dân tộc ḿnh. Hàng loạt câu hỏi đặt ra như lịch sử Việt với huyền thoại Rồng Tiên hoang đường huyền hoặc v́ thời buổi này ai mà tin người đẻ ra trứng rồi trứng lại nở ra người? Trước đây, một số sách lịch sử không t́m hiểu nghiên cứu về truyện họ Hồng Bàng nên cho rằng ḍng Thần Nông phương Bắc là Trung Quốc, dân tộc ta là ḍng Thần Nông phương Nam cùng một ông Tổ Thần Nông nên từ Tầu mà ra. Trên thực tế, Hán tộc là tộc người du mục th́ làm sao có thể là con cháu của ông Tổ nghề trồng lúa nước Thần Nông? Ngay cả danh từ trăm họ, bách tính bá tánh và các ḍng họ Việt Nam do ảnh hưởng của sự nô dịch văn hoá nên cũng cho là của Tàu, từ Tàu di cư qua Việt Nam mà quên rằng chính truyền thuyết mẹ Âu sinh trăm trứng đă dẫn đến ư niệm trăm họ của tộc Việt.

 

Biết bao vấn đề cần làm sáng tỏ v́ sau gần một ngàn năm dưới ách thống trị của Tầu Hán với chủ trương thâm độc quỷ quyệt, kẻ thù truyền kiếp của dân tộc đă xuyên tạc bóp méo sửa đổi lịch sử để đồng hoá dân ta. Có một thực tế đau ḷng là sau gần một ngàn năm nô lệ giặc Tàu, một trăm năm đô hộ của giặc Tây khiến dân tộc chúng ta dường như mang mặc cảm thua kém văn minh Tàu, cái ǵ hay đẹp cũng nói là của Tàu, cái ǵ to lớn văn minh cũng bảo là của Tây… đă tạo nên cái tự ti mặc cảm của một dân tộc nhược tiểu. Ai trong chúng ta cũng đều biết rơ ḿnh không phải là Tàu nhưng không dẫn ra những chứng cớ thuyết phục để chứng minh.

 

Thậm chí, ảnh hưởng của sự nô dịch văn hóa khiến một số người tỏ ra hoài nghi tất cả những ǵ mới lạ cho dù đó là một công tŕnh nghiên cứu có tính khoa học thuyết phục của các học giả ngoại quốc mà vẫn khư khư chấp nhận những nhồi nhét từ ngàn năm qua. Chính v́ vậy, một học giả thời danh ngoại quốc J. Needham đă phải viết rằng: “Sự thật bị che phủ hàng ngàn năm cùng với ảnh hưởng của ngàn năm thống trị nô dịch văn hóa khiến ngay cả người Việt cũng ngỡ ngàng, không tin đó là sự thật!”.

 

Trong lịch sử nhân loại, không một dân tộc nào chịu nhiều mất mát trầm luân như dân tộc Việt với những thăng trầm lịch sử, những khốn khó thương đau. Ngay từ thời lập quốc, Việt tộc đă bị Hán tộc với sức mạnh của tộc người du mục đă đánh đuổi Việt tộc phải rời bỏ địa bàn Trung nguyên Trung Quốc xuống phương Nam. Các nhà Việt Nam học khi nghiên cứu lịch sử Việt Nam vẫn đặt ra 2 câu hỏi mà vẫn chưa được lư giải thỏa đáng, đó là tại sao triều đại nào của Trung Quốc cũng chủ trương xâm chiếm lănh thổ và tiêu diệt Việt tộc bằng mọi giá và yếu tố nào đă giúp dân tộc Việt Nam tạo nên kỳ tích là sau gần 1 ngàn năm bị thống trị mà dân tộc Việt vẫn vùng lên giành lại được độc lập dân tộc?

 

Thật ra, t́m hiểu suy ngẫm lại toàn bộ tiến tŕnh lịch sử th́ chúng ta thấy ngoài lư do vị trí địa lư chiến lược và tài nguyên, có 2 lư do chính để Hán tộc phải tiêu diệt Việt tộc bằng mọi giá. Lư do chính là Hán tộc đă lấy văn hóa Việt cải biến thành văn hóa Hán, văn minh Hán và lănh thổ Trung Quốc ngày nay chính là địa bàn cư trú của tộc Việt mà Hán tộc đă xâm chiếm và quan trọng hơn nữa là quá nửa dân số Trung Quốc là người gốc Việt cổ. Đây là một nguy cơ tiềm tàng đe dọa sự sống c̣n của Trung Quốc nên triều đại nào, giới cầm quyền nào cũng chủ trương xâm lược tiêu diệt dân tộc chúng ta.

 

Người Việt là cư dân nông nghiệp trồng lúa nước, mỗi chi tộc cư trú trên một địa bàn nằm rải rác trên khắp lănh thổ Trung Quốc bây giờ và thường đánh lẫn nhau để giành quyền lănh đạo nên cộng đồng Bách Việt bị phân hóa và suy yếu. V́ vậy, khi Hán tộc du mục thiện chiến từ Tây Bắc tràn xuống đánh chiếm dễ dàng. Thời Xuân Thu Chiến Quốc hết Ngô đến Việt rồi Sở đánh lẫn nhau giành ngôi bá chủ trung nguyên, cuối cùng bị đế quốc Tần đánh đuổi phải chạy xuống phương Nam hội nhập vào phần c̣n lại của quốc gia Văn Lang ở Việt Nam bây giờ. Chính hoàn cảnh lịch sử đă hun đúc ḷng yêu nước thương ṇi của con dân đất Việt, mỗi người Việt Nam sinh ra đă có một gene di truyền yêu nước thương ṇi. Lănh thổ Việt Nam hiện tại tập trung đồng bào thuộc các chi tộc Việt đă tạo thành một sức mạnh tổng lực để vùng lên quật khởi giành lại nền độc lập dân tộc sau gần 1 ngàn năm nô lệ vào đúng thời điểm Hán tộc phương Bắc suy yếu.

 

Hán tộc là một tộc người du mục, bản chất hiếu chiến hiếu sát với tư tưởng chủ đạo “Độc tôn Đại Hán,” tự cho ḿnh là trung tâm của thiên hạ nên ngay từ triều Thương, sau khi đánh đuổi nhà Hạ của tộc Việt đă chọn tên nước là Trung Quốc. Trung Quốc là nước trung tâm của thiên hạ, triều đ́nh Trung Quốc là “Thiên triều” trong khi các nước khác là chư hầu, vua Trung Quốc là Thiên tử.

 

Sau khi đă xâm chiếm nhà Hạ và các nước Bách Việt, hết Thương rồi đến Chu đă xâm thực văn hóa, tiếp thu tinh hoa của nền văn minh Việt rồi cải biến thành văn hóa Hán. Hán tộc tự cho ḿnh là văn minh c̣n tất cả các nước là man di mọi rợ nên Hán sử viết tên của những dân tộc xung quanh họ kèm theo bộ khuyển (chó), bộ trĩ (côn trùng), bộ mă (ngựa). Các sử gia Hán tộc với quan niệm: “Đại nhất thống” tự nhận là tộc người ưu việt, trung tâm của thế giới là cái rốn của nhân loại. Chủ trương trước sau như một của Đại Hán bành trướng là “Huệ thử Trung Quốc, dĩ tuy Tứ phương” nghĩa là: “lấy ân huệ Trung Quốc để yên định bốn phương.” Đó là chủ trương bành trướng Đại Hán “Dĩ Hạ biến Di” nghĩa là lấy cái cao thượng, tao nhă của Đại Hán để cải hoá man di mọi rợ!

 

Sau khi tiếp nhận văn hóa Việt, chữ viết của các dân tộc Việt rồi lợi dụng Hán tự là văn tự duy nhất, các sử gia Trung Quốc từ cổ đại đến nay đă xuyên tạc, bóp méo sự thật, sửa đổi cho phù hợp với sử quan Đại Hán, đánh đổ ḷng tự hào dân tộc của các dân tộc bị trị để dễ bề thống trị và đồng hoá. Đó là chủ trương nhất quán, là bản chất bành trướng thâm độc của họ xuyên suốt ḍng lịch sử từ xưa tới nay. Chính v́ thế, lịch sử Trung Quốc là lịch sử của những cuộc chiến tranh xâm lược bành trướng, thôn tính và đồng hóa các dân tộc khác. Lịch sử Trung Quốc khởi từ triều Thương với lănh thổ chỉ rộng bằng 2 tỉnh ngày nay mà bây giờ đă trở thành một đế quốc rộng lớn đô hộ thống trị các dân tộc Mông, Măn, Tạng và Hồi. Nhà Trung Hoa học Terrien De LaCouperie trong tác phẩm “China Before the Chinese” đă nhận định rằng đế quốc Trung Hoa đă thôn tính và đồng hóa 21 sắc dân khác.

 

Chủ trương tiêu diệt văn hóa Việt thời quân Minh xâm lược được sử gia Trần Trọng Kim ghi lại trong Việt Nam Sử Lược như sau: “Triều Minh xóa sạch văn hóa và bản sắc người Việt, bắt người Việt phải sinh hoạt giống người Tàu, từ cách ăn mặc, học hành, đến việc cúng tế. Đàn ông Việt Nam bị hoạn thiến rất nhiều. Sách vở bị đốt phá, báu vật, sách quư và những người tài giỏi đều bị đem về Tàu. Các sách lịch sử, binh pháp có giá trị của Đại Việt được lưu truyền từ nhiều đời, đặc biệt là binh pháp đời Trần, đă bị thất truyền là do vậy. Trong số hơn 7600 nhân tài của Đại Việt trong đó có nhà chế tạo súng Hồ Nguyên Trừng, kiến trúc gia Nguyễn An bị bắt sang Tàu để phục vụ chính quyền nhà Minh, đồng hóa họ, sinh con đẻ cháu và chết luôn bên Tàu. Ngoài ra, triều Minh c̣n áp dụng hệ thống sưu cao thuế nặng, ra sức khai thác tài nguyên của Đại Việt đem về Trung Hoa.

 

Đế quốc Trung Cộng chỉ mới xâm chiếm Tây Tạng từ năm 1959 đến nay mới có hơn một nửa thế kỷ mà Đức Đạt lai Lạt Ma của Tây Tạng đă ngậm ngùi cay đắng thốt lên: “Tôn giáo, văn hóa, ngôn ngữ và nhân cách của các thế hệ Tây Tạng, vốn quư giá hơn mạng sống của họ, nay đă gần như bị tiêu diệt ! Đảng cộng sản và nhà nước Trung Cộng đă biến Tây Tạng thành một “Địa ngục trần gian”!.

 

Đă đến lúc phải trả lại lịch sử những ǵ của lịch sử. Dưới ánh sáng của chân lư khách quan, lịch sử vẫn là lịch sử của sự thật dù bị sửa đổi vùi lấp hàng ngh́n năm bởi sức mạnh của kẻ thống trị. Kết quả của khoa Phân tích Di truyền hoàn toàn phù hợp với thư tịch cổ Trung Hoa, Khoa Khảo cổ học, Nhân chủng học, Khảo tiền sử kể cả truyền thuyết Rồng Tiên về thời kỳ dựng nước của Việt tộc. Chứng cớ khoa học mới nhất có tính thuyết phục nhất, một lần nữa khẳng định tộc Việt và Hán tộc là 2 tộc người khác nhau.

 

Việt tộc có yếu tố đột biến di truyền đặc biệt của châu Á trong khi Hán tộc không có yếu tố này. Các công tŕnh khoa học cũng xác định địa bàn cư trú của tộc người Malaysian=Malayo-Viets từ rặng Tần Lĩnh, hạ lưu sông Hoàng Hà ở Trung nguyên trải dài xuống tận vùng Đông Nam Á lục địa và hải đảo. Địa bàn cư trú của Việt tộc phía Bắc tới hạ lưu sông Hoàng Hà, phía Tây giáp Tây Tạng, Đông giáp Nam Hải, Nam xuống tận Bắc Trung Việt, chính là cương giới của nước Văn Lang xưa của tộc Việt.

 

Trong suốt trường kỳ lịch sử, tuy bị Hán tộc xâm lấn phải bỏ trung nguyên xuống phương Nam nhưng nền văn hóa của Việt tộc đă thẩm nhập vào đất nước và con người Hán tộc để h́nh thành “cái gọi là văn minh Trung Quốc”. Chính sử gia chính thống của Hán tộc là Tư Mă Thiên đă phải thừa nhận một sự thực là: “Việt tuy gọi là man di nhưng tiên khởi đă có đại công đức với muôn dân vậy …. Vạn thế sư biểu của Hán tộc là Khổng Tử đă ca tụng nền văn minh rực rỡ, xác nhận tính ưu việt của nền văn minh Bách Việt ở phương Nam. Trong sách Trung Dung Khổng Tử đă viết như sau:Độ luợng bao dung, khoan ḥa giáo hóa, không báo thù kẻ vô đạo, đó là sức mạnh của phương Nam, người quân tử ở đấy..!  Mặc giáp cưỡi ngựa, xông pha giáo mác, đến chết không chán, đó là sức mạnh của phương Bắc. Kẻ cường đạo ở đó ..”.

 

Trong kinh “Xuân Thu”, Khổng Tử đă ghi lại bao nhiêu trường hợp cha giết con, con giết cha, cha cướp vợ của con, con cướp vợ của cha, anh chị em dâm loạn với nhau, bề tôi giết chúa … Điều này chứng tỏ Hán tộc du mục vẫn c̣n dă man mạnh được yếu thua, bất kể t́nh người, bất kể luân lư đạo đức. Thế mà chính sử Trung Quốc cứ vẫn miệt thị Việt tộc là man di, các Thứ sử Thái Thú Hán vẫn lên mặt giáo hóa dân Việt trong khi Bách Việt ở phương Nam đă đi vào nền nếp của văn minh nông nghiệp từ lâu.

 

“Vạn thế Sư biểu” của Hán tộc là Khổng Tử cũng đă phải đem những nghiên cứu, sưu tập, học hỏi của nền văn minh Bách Việt phương Nam đặt để thành những tôn ti trật tự, những giá trị đạo lư cho xă hội Trung Quốc. Tất cả những “Tứ thư, ngũ kinh” được xem như tinh hoa của Hán tộc đă được chính Khổng Tử xác nhận là ông chỉ kể lại “Thuật nhi bất tác”, chép lại của tiền nhân chứ không phải do Khổng Tử sáng tác ra. Chính v́ Hán tộc đă lấy văn hóa Việt rồi biến cải thành văn hóa Hán rồi lại ra sức truyền bá nhồi nhét cái gọi là văn hóa Hán suốt gần 1 ngàn năm thống trị nên chúng ta cứ tưởng từ cái tết đến tiết thanh minh, tết Đoan Ngọ, tết trung Thu… là của Tàu trong khi đó chính là lễ hội của cư dân nông nghiệp chúng ta.

Ngày nay, sự thật lịch sử đă được phục hồi khi giới nghiên cứu đều xác nhận hầu hết các phát minh gọi là văn minh Trung Quốc từ nền văn minh nông nghiệp đến văn minh kim loại, kỹ thuật đúc đồng, cách làm giấy, cách nấu thủy tinh, cách làm thuốc súng, kiến trúc nóc oằn mái và đầu dao cong vút … tất cả đều là của nền văn minh Bách Việt. Chính Hán Hiến Đế, vị vua cuối cùng của triều Hán đă phải thừa nhận như sau: “Giao Chỉ là đất văn hiến, núi sông un đúc, trân bảo rất nhiều, văn vật khả quan, nhân tài kiệt xuất ..!”.

HƠN LÚC NÀO HẾT, t́m hiểu về huyền thoại Rồng Tiên, khởi nguyên dân tộc Việt Nam thời Lập Quốc với Quốc Tổ Hùng Vương là một yêu cầu lịch sử hết sức cần thiết. Thế hệ con em chúng ta sẽ hiểu rơ về bản sắc văn hoá truyền thống của dân tộc Việt, về đời sống văn hoá tâm linh Việt, về những lễ tết, hội hè đ́nh đám của dân tộc Việt. Để từ đó, thế hệ con em chúng ta sẽ thấy rơ hơn gía trị cao đẹp của bản sắc văn hóa truyền thống nhân bản Việt.

Chúng ta có quyền tự hào là “con Rồng cháu Tiên” của một dân tộc có lịch sử lâu đời như  danh nhân văn hóa Nguyễn Trăi đă  tuyên xưng: “Chỉ  nước Đại Việt ta từ  trước, mới có  nền văn hiến ngàn năm”. Chúng ta hănh diện được làm người Việt Nam thuộc một đại chủng lớn của nhân loại để ngẩng cao đầu sánh vai cùng các cường quốc trong thiên niên kỷ thứ ba của nhân loại.

Chúng ta phải làm sao xứng đáng với tiền nhân, chúng ta phải làm ǵ để không hổ thẹn với hồn thiêng sông núi, với anh linh của những anh hùng liệt nữ Việt Nam. Toàn thể đồng bào trong nước và Hải ngoại cùng nắm chặt tay nhau, muôn người như một cùng đứng lên đáp lời sông núi để cứu quốc và hưng quốc, tô điểm giang sơn gấm vóc, xứng danh ngàn năm ḍng giống Lạc Hồng.

Chính niềm tự hào dân tộc sẽ thôi thúc ḷng yêu nước của toàn thể đồng bào Việt Nam chúng ta, nhất là thế hệ trẻ trong nước và Hải ngoại để vươn lên làm một cuộc cách mạng Dân tộc Dân chủ xă hội. Điều kiện khách quan của lịch sử đă tạo cho dân tộc chúng ta một thế hệ trẻ có đầy đủ tri thức thời đại để hoàn thành một cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật siêu vượt, đưa đất nước chúng ta bước lên sánh vai cùng các cường quốc trong thiên niên kỷ thứ ba của nhân loại.

Mùa Giỗ Tổ 4.890 Việt Lịch (2011 DL)

PHẠM TRẦN ANH

 

 

 

HỘI ÁI HỮU TÙ NHÂN CHÍNH TRỊ
VÀ TÔN GIÁO VIỆT NAM

ĐẠI HỘI DIÊN HỒNG THỜI ĐẠI VIỆT NAM

LIÊN MINH DÂN CHỦ TỰ DO VIỆT NAM

LỰC LƯỢNG QUỐC DÂN
DỰNG CỜ DÂN CHỦ

PHONG TRÀO TOÀN DÂN CỨU NƯỚC

HỘI ĐỒNG LIÊN KẾT QUỐC NỘI
HẢI NGOẠI VIỆT NAM